logo
Thuốc và sức khoẻ
  • 6_1
  • img-9188f5f050d6fc9df53a6f9c7a994471-v
  • phng_chuyn_bit
  • phng_t_nguyn
  • sdc10132

05/20/2019

Một bác sĩ đang điều trị một bệnh nhân bằng clozapine bị gián đoạn do giảm bạch cầu trung bình hoặc nặng phải xem xét cách tốt nhất để có thể phục hồi các triệu chứng loạn thần của bệnh nhân.

            Clozapine là một liệu pháp đã được chứng minh cho bệnh nhân tâm thần phân liệt kháng điều trị. Trong một số ít trường hợp, clozapine có thể gây giảm bạch cầu trung tính, được định nghĩa là số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối (ANC) dưới 1.500 tế bào / mm 3. Bạch cầu trung tính là một phần quan trọng của hệ thống miễn dịch và giảm bạch cầu trung tính làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Một phân tích tổng hợp gần đây đã tính toán tỷ lệ giảm bạch cầu do clozapine gây ra ở mức 3,8 trên 100 người phơi nhiễm và tỷ lệ giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng hay mất bạch cầu hạt (ANC dưới 500 tế bào / mm 3) ở mức 0,9% trên 100 người sau hàng năm tiếp xúc.

            Sự phát triển của giảm bạch cầu có thể gây lo lắng cho tất cả những người liên quan. Các bước bác sĩ cần làm để giải quyết vấn đề này? Vì clozapine không được sử dụng thường xuyên cho những người bị tâm thần phân liệt ở Hoa Kỳ và giảm bạch cầu trung tính là một tác dụng phụ hiếm gặp, có dữ liệu kết quả hạn chế để giúp hướng dẫn ra quyết định lâm sàng.

            Theo hướng dẫn REMS về clozapine, nếu một cá nhân bị giảm bạch cầu nhẹ (ANC = 1.000 đến 1.499 tế bào / mm 3 ), clozapine có thể được tiếp tục, nhưng cần theo dõi ba lần một tuần cho đến khi ANC ≥ 1.500 tế bào / mm 3. Nếu một bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung bình (ANC = 500 đến 999 tế bào / mm 3 ), bệnh nhân nên dừng clozapine và ANC được theo dõi hàng ngày cho đến khi số lượng là ≥ 1.000 tế bào / mm 3. Nếu một bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nghiêm trọng, nên tham khảo ý kiến ​​về huyết học ngoài việc ngừng sử dụng clozapine và theo dõi số lượng ANC hàng ngày cho đến khi số lượng là ≥ 1.000 tế bào / mm 3.

            Một bác sĩ đang điều trị cho bệnh nhân điều trị bằng clozapine bị gián đoạn do giảm bạch cầu trung bình hoặc nặng phải xem xét khả năng phục hồi các triệu chứng loạn thần của bệnh nhân và nên cân nhắc dùng thuốc chống loạn thần mới cho bệnh nhân. Điều này có thể có vấn đề vì bệnh nhân thường thất bại nhiều thuốc chống loạn thần trước khi dùng clozapine. Các báo cáo cho thấy hầu hết các bệnh nhân được dùng clozapine và được kê đơn thuốc chống loạn thần khác nhau sẽ bị tái phát triệu chứng.

            Thay thế cho việc chuyển đổi thuốc chống loạn thần là khởi động lại, hoặc kiểm tra lại clozapine. Sử dụng lại có thể gây ra những rủi ro đáng kể, vì bệnh nhân có thể giảm bạch cầu trung tính, thường nhanh hơn và kéo dài hơn trong khoảng thời gian thứ hai. Tái phát giảm bạch cầu trung tính đã được chứng minh xảy ra ở một vai nơi trong khoảng từ 30% đến 40% bệnh nhân tái sử dụng, với những bệnh nhân lớn tuổi và bệnh nhân bị giảm bạch cầu sớm trong quá trình điều trị clozapine ban đầu có nhiều khả năng điều trị lại không thành công.

            Trước khi cho bệnh nhân sử dụng lại clozapine, có một số câu hỏi về bệnh nhân mà bác sĩ nên xem xét:

  • Có các yếu tố khác có thể gây ra giảm bạch cầu ở bệnh nhân, chẳng hạn như nhiễm trùng, hóa trị liệu hoặc các loại thuốc khác như lamotrigine hoặc penicillin G?
  • Bệnh nhân có trải nghiệm lợi ích từ clozapine trước khi bắt đầu giảm bạch cầu trung tính?
  • Có phải bệnh nhân và hệ thống hỗ trợ của bệnh nhân cảm thấy rằng lợi ích vượt trội hơn nhiều so với rủi ro của việc sử dụng lại?

            Trong khi clozapine có thể được giới thiệu lại sau khi giảm bạch cầu trung tính, việc tăng cường hiệu quả của clozapine bằng lithium là một chiến lược đã được thử nghiệm với một số thành công. Một phân tích tổng hợp các báo cáo ca bệnh đã xác định tỷ lệ thành công 94% khi bệnh nhân có tiền sử giảm bạch cầu trung tính được kiểm tra lại bằng clozapine cộng với lithium. Cần lưu ý rằng lithium không hoàn toàn bảo vệ chống mất bạch cầu hạt, vì đã có một vài trường hợp thất bại được báo cáo trong tài liệu.

            Sau khi một bệnh nhân được sử dụng lại và ổn định thành công clozapine, bác sĩ phải xem xét liệu có nên ngừng sử dụng lithium không, do cũng có tác dụng phụ về thận, tuyến giáp và thần kinh. Lithium kết hợp với clozapine có thể không mang lại bất kỳ lợi ích bổ sung nào về việc giảm triệu chứng cho những người bị tâm thần phân liệt kháng điều trị. Tuy nhiên, một phân tích tài liệu tôi mới thực hiện gần đây với các đồng nghiệp cho thấy rằng nên ngừng sử dụng lithium ở bệnh nhân được sử dụng lại clozapine.

            Chúng tôi đã xác định các báo cáo hạn chế về việc ngừng sử dụng lithium, nhưng trong tất cả các trường hợp, việc ngừng sử dụng lithium dẫn đến sự phát triển của giảm bạch cầu trung tính hoặc mất bạch cầu hạt trong vòng trung bình 35 ngày. Một số trường hợp nghiêm trọng, trong đó có một bệnh nhân tử vong do biến chứng nhiễm trùng. Thời gian nhanh chóng tái phát giảm bạch cầu trung tính chỉ ra tác dụng che giấu có thể xảy ra đối với lithium, đó là, thuốc đang tăng ANC thông qua việc bám dính thành mạch của bạch cầu (tạo ra các tế bào bạch cầu hiện có gắn vào mạch máu để tái lưu thông) và không ngăn chặn tác dụng ức chế tủy của clozapine .

            Với các báo cáo hạn chế về chủ đề này, tôi tin rằng chúng ta cần nhiều người kê đơn hơn để cung cấp các báo cáo về kinh nghiệm sử dụng lại clozapine của họ, thành công hoặc không thành công. Cũng cần phải có nhiều nghiên cứu hơn để hiểu rõ hơn về tác dụng huyết học của cả lithium và clozapine, vì vậy chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các chiến lược an toàn nhất để dùng lại clozapine sau giảm bạch cầu.

Nguồn:https://psychnews.psychiatryonline.org/doi/10.1176/appi.pn.2019.pp2a3

ROBERT O. COTES

Xuất bản online: 21 tháng 2 năm 2019

Một nghiên cứu đăng trên New England Journal Medecine ngày 18/10/2012

 

BỐI CẢNH

Ở các bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer đã có đáp ứng với thuốc chống loạn thần khi điều trị rối loạn loạn thần hoặc kích động gây hấn, nguy cơ tái phát các triệu chứng sau khi ngưng thuốc  chưa được đặt ra.

PHƯƠNG PHÁP

Bệnh nhân bị bệnh Alzheimer với loạn thần hoặc kích động gây hấn đã được chấp nhận điều trị mở với risperidone trong 16 tuần. Những người có đáp ứng với risperidone điều trị sau đó được phân bố ngẫu nhiên, trong một mẫu mù đôi, một trong ba phác đồ: nhóm tiếp tục điều trị  risperidone trong 32 tuần (nhóm 1), điều trị risperidone trong 16 tuần và tiếp theo là dùng giả dược trong 16 tuần ( nhóm2), hoặc giả dược trong 32 tuần (nhóm 3). Kết quả chính là thời gian tái phát các rối loạn loạn thần hoặc kích động.

 

KẾT QUẢ

Tổng cộng có 180 bệnh nhân được điều trị mở với risperidone ( liều trung bình: 0,97 mg mỗi ngày). Các mức độ nghiêm trọng của rối loạn loạn thần và kích động đã giảm, mặc dù đã có một sự gia tăng nhẹ trong các dấu hiệu ngoại tháp, 112 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đáp ứng điều trị, trong đó có 110 trải qua lựa chọn ngẫu nhiên. Trong 16 tuần đầu tiên sau khi điều trị ngẫu nhiên, tỷ lệ tái phát cao hơn ở nhóm dùng giả dược hơn trong các nhóm dùng risperidone (60% [24 của 40 bệnh nhân ở nhóm 3 so với 33% [23 của 70 trong các nhóm 1 và 2]; P = 0,004; tỷ xuất chênh với giả dược, 1,94, khoảng tin cậy 95% [CI], 1,09 đến 3,45, P = 0,02). Trong suốt 16 tuần tiếp theo, tỷ lệ tái phát cao hơn ở nhóm đã được chuyển từ risperidone thành giả dược với nhóm tiếp tục được điều trị risperidone (48% [13 của 27 bệnh nhân ở nhóm 2 so với 15% [2 13 ở nhóm 1]; P = 0,02, tỷ xuất chênh 4,88; 95% CI, 1,08 đến 21,98; P = 0,02). Tỷ lệ các tác dụng phụ và tử vong sau khi ngẫu nhiên không khác biệt đáng kể giữa các nhóm, mặc dù so sánh dựa trên số lượng nhỏ bệnh nhân, đặc biệt là trong 16 tuần cuối cùng.

 

KẾT LUẬN

Ở những bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer, những người có rối loạn loạn thần, kích động đã đáp ứng với risperidone điều trị cho 4 đến 8 tháng, ngưng risperidone có liên quan với tăng nguy cơ tái phát. (Được tài trợ bởi Viện Y tế quốc gia và các cơ quan khác; ClinicalTrials., NCT00417482).

Người dịch: BS Bùi Văn San

01/03/2019

Việc sử dụng các thuốc chỉnh khí sắc có thể liên quan đến nguy cơ đột quỵ gia tăng ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực, theo kết quả nghiên cứu được công bố trên The British Journal of Psychiatry. Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ một nhóm (n = 19.433) bệnh nhân bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực sử dụng Cơ sở dữ liệu nghiên cứu về bảo hiểm y tế quốc gia Đài Loan. Trong nghiên cứu thuần tập, 609 trường hợp đột quỵ được ghi nhận từ năm 1999 đến năm 2012. Để kiểm tra mối liên quan giữa sử dụng thuốc chỉnh khí sắc trong thời gian ngắn và đột quỵ, các nhà nghiên cứu đã sử dụng thiết kế nghiên cứu ca lâm sàng có đối chứng chéo trong 14 ngày. Sau 14 ngày, các yếu tố có khả năng cao được so sánh ở bệnh nhân và nhóm chứng để liên kết các thuốc chỉnh khí sắc cụ thể với các dạng đột quỵ khác nhau, bao gồm xuất huyết, thiếu máu não cục bộ( nhồi máu não) và các loại khác.

Sau khi phân tích hồi quy, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng thuốc chỉnh khí sắc có liên quan với nguy cơ đột quỵ gia tăng ở những người tham gia bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực (tỷ lệ nguy cơ được điều chỉnh (aRR), 1,26; CI 95%, 1,01-1,58; P = 0,41). Đối với các cá nhân cụ thể, việc tiếp xúc với carbamazepine có liên quan đến nguy cơ đột quỵ cao nhất (aRR, 1,68; KTC 95%, 1,09-2,59; P = 0,018), đặc biệt là đột quỵ do thiếu máu não. Hơn nữa, họ báo cáo rằng sử dụng axit valproic có liên quan với tăng nguy cơ đột quỵ xuất huyết (aRR, 1,76; KTC 95%, 1,09-2,87; P = 0,22).Lamotrigine và lithium  không liên quan với tăng nguy cơ đột quỵ."Những phát hiện này có thể đưa ra một hướng dẫn cho việc lựa chọn của các thuốc chỉnh khí sắc  ở những bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực, những người cần điều trị cấp cho các triệu chứng cảm xúc và những người đã có các yếu tố nguy cơ đột quỵ", các nhà nghiên cứu viết.

Cần các nghiên cứu sâu sắc hơn để nghiên cứu đầy đủ các mối liên hệ giữa thuốc chỉnh khí săc và đột quỵ.

Nguồn: Chen PH, Tsai SY, Pan CH, et al. Mood stabilisers and risk of stroke in bipolar disorder. Br J Psychiatry

Chen PH

Xuất bản online: 8/10/2018

 

Theo dữ liệu được cung cấp từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) ở Hoa Kỳ trong năm 2009, Methadone liên quan đến hơn 30% trường hợp tử vong trong nhóm sử dụng opioid, chỉ đứng thứ hai sau thuốc giảm đau oxycodone.

Tỉ lệ tử vong do quá liều methadone là cao mặc dù tỉ lệ kê đơn Methadone chỉ chiếm dưới 2% các opioid được kê đơn năm 2009. Theo Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh, một phần của vấn đề này là Methadone dễ gây quá liều hơn những opioid khác. Ví dụ, mức độ gây độc của Methadone có thể được tích lũy trong cơ thể và dẫn tới suy hô hấp nặng. Methadone cũng có thể là nguyên nhân gây ra các rối loạn nặng nề trong đó có các rối loạn nhịp tim. Bác sĩ Thomas r. Frieden, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh nói “ Nó tác động khác nhau trên những người khác nhau, vì vậy một người có thể sử dụng một lượng nhỏ nhưng cũng có thể tồn tại nhiều ngày trong các cơ quan tổ chức và gây ra các vấn đền sức khỏe nghiêm trọng”.

Tiến sĩ Frieden lưu ý rằng sự gia tăng tử vong do quá liều Methadone chủ yếu là do tăng cường sử dụng thuốc này trong các trường hợp giảm đau chứ ko phải một phần trong chương trình điều trị cai nghiện.

Những phát hiện này được công bố vào ngày 3 tháng 7 năm 2012 tại Tuần báo Gánh nặng bệnh tật và tử vong, những báo cáo này cũng chỉ ra rằng việc sử dụng Methadone trong giảm đau cũng tăng lên và vì vậy số lượng tử vong do quá liều cũng tăng lên theo.

Tỉ lệ kê đơn Methadone hàng năm đã tăng lên 1,5 trên 100 người trong năm 2008 và ổn định trong năm 2009. Đồng thời, tỉ lệ tử vong của Methadone là 1,8 trên 100000 người trong năm 2007 và sau đó giảm nhẹ trong 2 năm tiếp theo. Từ năm 1999 đến 2009, số trường hợp tử vong do quá liều thuốc liên quan đến Methadone đã tăng 5,5 lần. Methadone liên quan đến 31.4% của 3294 trường hợp tử vong liên quan đến Opioid ở Hoa kì năm 2009.

Phát hiện này được tìm thấy dựa trên dữ liệu quốc gia lấy từ Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh và Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm (FDA), Cục Quản lý ma túy, cũng như dữ liệu từ 13 quốc gia, những nước là một phần của mạng lưới cảnh báo lạm dụng thuốc.

Quan chức y tế đã kêu gọi các bác sĩ không kê đơn thuốc, trừ khi họ đã có kinh nghiệm với nó và hạn chế sử dụng các thuốc này với các trường hợp mà mà lợi ích nhiều hơn rủi do như các trường hợp để điều trị ung thư hoặc chăm sóc giảm nhẹ.

Trên Tuần báo Gánh nặng bệnh tật và tử vong, các nhà nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh đã nói rằng thực trạng sử dụng thuốc này trong việc điều trị giảm đau là không thích hợp. Họ cũng đưa ra một nghiên cứu từ FDA cho thấy rằng các vấn đề về cơ xương khớp như đau lưng hay viêm khớp là các trường hợp liên quan nhiều nhất đến sử dụng Methadone trong năm 2009. Các nhà nghiên cứu đặc biệt kêu gọi các bác sĩ không kê đơn Methadone cho các bệnh nhân đau lưng mức độ nhẹ bởi vì các nghiên cứu không thấy có hiệu quả trong việc sử dụng Opioid trong các trường hợp này.

Theo các nhà nghiên cứu. Methadone cũng nên được quy định đối với các trường hợp đau cấp tính hoặc các bệnh nhân chưa sử dụng Opioid bao giờ và cũng nên tránh cho bệnh nhân sử dụng các benzodiazepine vì có thể gây nguy cơ gây suy hô hấp nặng.

Bác sĩ Frieden nói “Có nhiều lựa chọn thay thế an toàn hơn so với Methadone. Chúng tôi muốn đảm bảo rằng Methadone được dùng phù hợp trong việc điều trị nghiện, điều trị giảm đau cũng như giải quyết hàng nghìn trường hợp tử vong do quá liều Methadone”

Nghiên cứu này đã chỉ ra một sự giảm nhẹ số lượng các trường hợp tử vong liên quan đến Methadone từ năm 2008 đến năm 2009, bác sĩ Frieden cho rằng đó là kết quả nỗ lực từ chính phủ trong việc hạn chế sự sẵn có của Methadone liều cao và thay đổi nhãn ghi của chúng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm, ông nói.

Các quan chức từ Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh đã kêu gọi các doanh nghiệp bảo hiểm, các công ty dược đóng góp vai trò tích cực trong công việc này. Ví dụ, các công ty bảo hiểm có thể cho phép kê liều giảm đau Methadone không vượt quá 30mg/ngày và dừng việc sử dụng Methadone như là một loại thuốc để điều trị các loại đau mãn tính không phải ung thư. Các quan chức y tế cũng kêu gọi các công ty dược phẩm đưa ra các chế phẩm liều thấp của Methadone.

Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu đến từ Trung tâm Quốc gia về phòng chống và kiểm soát thương tích, một cơ quan nằm trong Trung tâm kiểm soát dịch bệnh.

 

Viết bởi MARY ELLEN SCHNEIDER,

Đăng trên tờ “Tintức lâm sàng tâm thần”, ngày 3/7/2012

Người dịch: BS Lê Thị Thu Hà

07/27/2018

So với dân số nói chung, tỷ lệ mắc và tử vong sớm cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân bị bệnh tâm thần nặng (SMI- severe mental illness), bao gồm rối loạn cảm xúc và rối loạn loại phân liệt.1 Các nghiên cứu trước đã đưa ra báo cáo rằng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân SMI ít nhất là gấp đôi dân số chung, và sự khác biệt này giữa 2 nhóm đang tăng lên.2,3

Những trường hợp tử vong sớm trong số những người bị SMI thường là hậu quả của các bệnh kèm theo, bao gồm bệnh tim mạch (CVD), đột quỵ, tiểu đường, ung thư, và các bệnh về đường hô hấp và nhiễm trùng.1Như ở bệnh nhân tâm thần phân liệt, CVD là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong.4

“Những lý do của tăng tỷ lệ mắc và tử vong rất phức tạp, bao gồm lối sống không lành mạnh (hút thuốc lá, uống rượu, lười tập thể dục, lượng muối ăn vào quá mức và chế độ ăn thiếu dinh dưỡng), kích hoạt hệ thống dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, tăng tỷ lệ hội chứng chuyển hóa, và tác dụng phụ của một số loại thuốc an thần kinh nhất định” theo một bài viết công bố trên“Vascular Pharmacology”.1

Ngoài ra, bệnh tâm thần đã được xác định là một yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh tim mạch,5 và thuốc hướng thần đã được liên quan đến sự phát triển của rối loạn tim mạch thông qua các tác động trực tiếp và gián tiếp. Các tác nhân này có liên quan trực tiếp đến các tác dụng trên mạch máu như tăng hoặc giảm huyết áp, tăng nguy cơ huyết khối và thay đổi nội môi.1

Nhiều loại thuốc này có thể dẫn đến tăng cân, rối loạn lipid máu và cuối cùng là tiểu đường và tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.1 Một số kết quả cho thấy tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch có thể cao hơn ở thuốc an thần kinh không điển hình so với loại điển hình.3

Ngoài việc được sử dụng trong điều trị bệnh nhân rối loạn tâm thần, các toa thuốc an thần kinh đang gia tăng ở những bệnh nhân với các rối loạn khác nhau, bao gồm rối loạn cảm xúc và mất trí nhớ.1 Việc sử dụng thuốc an thần kinh đã được phát hiện là cao không cân xứng ở những bệnh nhân lớn tuổi: ví dụ trong 1 nghiên cứu, hơn một phần tư bệnh nhân điều dưỡng tại nhà với chương trình Medicare (Chương trình chăm sóc người già trên 65 tuổi của Hoa Kỳ) đang được điều trị bằng các thuốc này.6

Theo những quan sát này, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận thức tác dụng phụ tiềm tàng trên tim mạch của thuốc an thần kinh của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, và theo dõi, giải quyết các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân SMI.

Vậy nên, người ta xem xét các nghiên cứu được công bố từ năm 2000 liên quan đến các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên mạch máu của thuốc an thần kinh.1 Những phát hiện chính của họ trong tổng quan được nêu bật sau đây

Thuốc an thần kinh có liên quan đến kéo dài khoảng QTc; nguy cơ này phụ thuộc vào liều và cũng có thể tăng thêm với việc bổ sung thuốc chống loạn thần thứ hai. Các tác nhân này cũng liên quan đến tăng nguy cơ xoắn đỉnh và tử vong do rối loạn nhịp tim.

Một số thuốc an thần kinh có thể làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch vỏ não hoặc thuyên tắc phổi, có thể là do "tăng ngưng tập tiểu cầu, tăng nồng độ kháng thể anticardiolipin, và tắc tĩnh mạch cấp". Trong một nghiên cứu bệnh chứng trên 115.000 bệnh nhân ở Vương quốc Anh, những người đã được kê đơn thuốc an thần kinh trong 24 tháng trước có tỉ lệ nguy cơ huyết khối tĩnh mạch cao hơn 32% so với người không dùng thuốc.7

So với thuốc an thần kinh điển hình, thì loại không điển hình liên quan với nguy cơ tử vong do các nguyên nhân khác thấp hơn, nhưng nguy cơ đột quỵ cao hơn.

Đối với rối loạn chuyển hóa, sự gia tăng nguy cơ cao nhất liên quan đến clozapine, olanzapine và chlorpromazine. Sự gia tăng này ở mức trung bình đối với quetiapine; nhẹ đối với risperidone, paliperidone, amisulpride và sertindole; và thấp hơn nữa cho aripiprazole và ziprasidone.

Đối với rối loạn lipid máu, nguy cơ cao nhất đối với olanzapine và clozapine, trung bình đối với risperidone và quetiapine, và thấp với aripiprazole và ziprasidone.

Ðối với đái tháo đường, nguy cơ cao hơn 1,3 lần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt dùng an thần kinh không điển hình so với dùng loại điển hình.

Trong một tổng quan hệ thống các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, các tác dụng phụ trên tim mạch và chuyển hóa liên quan đến thuốc an thần kinh không điển hình được xếp hạng từ cao đến thấp như sau: clozapine = olanzapine > quetiapine, risperidone = paliperidone,> amisulpride, aripiprazole.8Cũng bài báo cáo này đã đưa ra một phân cấp như sau về nguy cơ tăng cân kết hợp với thuốc chống loạn thần: clozapine và olanzapine> risperidone> quetiapine> aripiprazole> ziprasidone.8

Kết hợp với nhau, những phát hiện này gợi ý rằng việc sử dụng thuốc an thần kinh lâu dài có thể liên quan với các tác dụng nghiêm trọng trên hệ thống mạch máu. Như vậy, các bác sĩ lâm sàng nên làm quen với các tác dụng tiềm tàng trên  mạch máu của những loại thuốc này. Xem xét tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở những bệnh nhân bị SMI, đặc biệt là ở những bệnh nhân có rối loạn loạn thần, theo dõi biểu hiện lâm sàng và các chỉ số trao đổi chất nên được thực hiện đầy đủ bởi các bác sĩ lâm sàng chăm sóc cho những bệnh nhân này.

Tài liệu tham khảo:                

  1. Kahl KG, Westhoff-Bleck M, Krüger THC. Effects of psychopharmacological treatment with antipsychotic drugs on the vascular system.Vascul Pharmacol. 2018;100:20-25.
  2. Ventriglio A, Gentile A, Stella E, Bellomo A. Metabolic issues in patients affected by schizophrenia: clinical characteristics and medical managementFront Neurosci. 2015;9:297.
  3. Saha S, Chant D, McGrath J. A systematic review of mortality in schizophrenia: is the differential mortality gap worsening over time?Arch Gen Psychiatry. 2007;64(10):1123-1131.
  4. Olfson M, Gerhard T, Huang C, Crystal S, Stroup TS. Premature mortality among adults with schizophrenia in the United StatesJAMA Psychiatry. 2015;72(12):1172-1181.
  5. Osby U, Westman J, Hallgren J, Gissler. Mortality trends in cardiovascular causes in schizophrenia, bipolar and unipolar mood disorder in Sweden 1987–2010Eur J Pub Health. 2016;26(5):867-871.
  6. Colenda CC, Mickus MA, Marcus SC, Tanielian TL, Pincus HA. Comparison of adult and geriatric psychiatric practice patterns: findings from the American Psychiatric Association's Practice Research NetworkAm J Geriatr Psychiatry. 2002;10(5):609-617.
  7. Parker C, Coupland C, Hippisley-Cox J. Antipsychotic drugs and risk of venous thromboembolism: nested case-control studyBMJ. 2010;341:c4245.
  8. De Hert M, Detraux J, van Winkel R, Yu W, Correll CU. Metabolic and cardiovascular adverse effects associated with antipsychotic drugs.Nat Rev Endocrinol. 2011;8(2):114-126.

Nguồn:  https://www.psychiatryadvisor.com/schizophrenia-advisor/effects-of-antipsychotic-drugs-on-cardiovascular-health/article/758891/

Người dịch: BSNT. Đặng Hải Tú

 

4269_invega-paliperidone.gif
Theo Tạp chí Medscape Medical News, ngày 12/4/2011 Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) đã chấp thuận cho sử dụng paliperidone (Invega; Hãng Dược phẩm Ortho-McNeil-Janssen) trong điều trị tâm thần phân liệt (TTPL) ở thanh thiếu niên trong độ tuổi 12-17. Paliperidone là thuốc chống loạn thần không điển hình và đã được chấp thuận trong điều trị TTPL cho người lớn từ năm 2006.

 

Việc chấp thuận dựa trên những kết quả từ một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng placebo trong 6 tuần cho thấy hiệu quả của đơn trị liệu với paliperidone phóng thích chậm ở các bệnh nhân là thanh thiếu niên.

 

Nghiên cứu được thực hiện với các bệnh nhân trong độ tuổi 12-17 từ nhiều nước, bao gồm cả Mỹ. Tất cả bệnh nhân đều đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo DSM4 và được đánh giá lại bằng các công cụ chẩn đoán dành riêng cho rối loạn cảm xúc và TTPL.

 

Bệnh nhân được chỉ định vào các nhóm dùng liều thấp, liều trung bình và liều cao, được liều điều trị paliperidone dựa trên cân nặng từ 1,5 đến 12mg/ngày, và được đánh giá bằng thang PANSS (Thang Đánh giá Hội chứng Âm tính và Dương tính).


Qua nghiên cứu, paliperidone có hiệu quả với liều từ 3 - 12 mg/ngày.

Bệnh nhân dung nạp tốt với thuốc trong khoảng liều hiệu quả và tác dụng phụ có liên quan đến liều dùng. Các tác dụng phụ trong nhóm điều trị paliperidone bao gồm buồn ngủ (13%), loạn động (9%), đau đầu (9%), và mất ngủ (9%).

 

"Chỉ định mới này cung cấp thêm sự lựa chọn cho các nhà lâm sàng đang điều trị cho thanh thiếu niên mắc TTPL và xa hơn nữa là biểu thị sự cam kết của chúng ta trong việc giúp những người mắc bệnh về não", Husseini Manji - Trưởng nhóm Nghiên cứu & Phát triển của Công ty Dược Johnson & Johnson nói.


Paliperidone là một chất đối vận dopamine hoạt hóa trung tâm D(2) và receptor tiết serotonin 5-HT(2A). Công thức phóng thích chậm cho phép sử dụng 1 lần/ngày. Tỷ lệ phóng thích có kiểm soát cung cấp độ tập trung huyết tương dần đạt nồng độ đỉnh 24 giờ sau liều đầu tiên và độ dao động tối thiểu sau đó. Các mức độ trạng thái ổn định đạt được sau dùng 4 ngày thuốc.

BS. Nguyễn Chí Thành lược dịch
Viện Giám định Pháp y Tâm thần TW

2018-06-29

Ở Mỹ, hơn một nửa số opioid được kê đơn cho bệnh nhân có rối loạn tâm thần, theo nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học gia đình của Mỹ (Journal of the American Board of Family Medicine).

TS. Matthew A. Davis đến từ Viện Chính sách và Đổi mới chăm sóc Sức khỏe, Đại học Michigan, Ann Arbor và đồng nghiệp đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang ở người trưởng thành không được ủy quyền sử dụng dữ liệu từ Khảo sát bảng chi phí y khoa (Medical Expenditure Panel Survey - MEPS). Nghiên cứu tìm kiếm mối liên quan giữa các rối loạn tâm thần như các rối loạn lo âu và cảm xúc và sử dụng các opioid kê đơn, được xác định khi dùng tối thiểu 2 đơn thuốc trong vòng 1 năm.

Có tổng cộng 52000 người trưởng thành (tuổi 18 trở lên) tham gia MEPS trong 2 năm 2011 và 2013 (25465 người trong năm 2011 và 26535 người trong năm 2013). Dữ liệu năm 2012 bị loại trừ vì sự trùng lặp 2 lần người tham gia do chồng lẫn bảng thiết kế.

Các điều tra viên ước tính có khoảng 38,6 triệu người có rối loạn tâm thần ở Mỹ, trong nhóm này, 7.2% triệu người (18.7) sử dụng opioid kê đơn. Bệnh nhân có một rối loạn tâm thần nhận khoảng 51,4% (60 triệu trong số 115 triệu đơn thuốc) trong tổng số opiod được kê đơn hằng năm.

Hơn nữa, nhóm người trưởng thành sử dụng opioid so sánh với nhóm không sử dụng opioid (18,7% và 5,0%, hồi cứu). Khi hiệu chỉnh thống kê, các nhà nghiên cứu thấy rằng các bệnh nhân có rối loạn tâm thần được kết hợp với sử dụng opioid kê đơn (OR:2.08).

Các tìm kiếm cắt ngang ở bệnh nhân có bệnh lý tâm thần được kê đơn opioat điều trị các mức độ khác nhau của đau được thêm bởi các yếu tố liên quan đến bệnh nhân và người cung cấp đặc hiệu với các bệnh lý tâm thần này làm tăng sự kê đơn opioid” Nhóm Dr David cho biết “Mối quan hệ có liên quan một cách đặc biệt bởi vì bệnh lý tâm thần cũng là một yếu tố nguy cơ nổi bật  cho quá liều và các tác dụng không mong muốn khác của opioid”.

Vì vậy, các tác giả nghiên cứu tiếp tục “Sự kì vọng các thầy thuốc thận trọng hơn trong việc kê đơn trong chăm sóc bệnh lý tâm thần và lựa chọn thay thế các thuốc không phải opioid. Khả năng xác định các quần thể có thể sử dụng opioid kê đơn không phụ thuộc đau sẽ có tầm quan trọng chiến lược để giảm nguy cơ tiềm ẩn ở mức độ sức khỏe dân số ".

Nguồn: https://www.psychiatryadvisor.com/mood-disorders/opioids-prescriptions-mood-and-anxiety-disorders/article/675529/

Colby Stong

July 18, 2017

Người dịch: BSNT. Nguyễn Minh Quyết

 
 fish-oil-vitamins.jpg Trầm cảm có tỷ lệ cao mắc phải ở người già, ước tính từ 7% - 9%. Sự thiếu hụt vitamin B12 cũng thường thấy ở nhóm dân số già. Thiếu hụt vitamin B6, B12 và folate có thể dẫn đến những bất thường về homocysteine - một amino acid trong máu, cái có liên quan với trầm cảm.

06/14/2018

Lofexidine làm giảm các triệu chứng như đau, chóng mặt và đổ mồ hôi kèm với giải độc opioid.

Vào ngày 16 tháng 05 năm 2018, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã phê duyệt lofexidine hydrochloride (tên thương hiệu Lucemyra) để điều trị các triệu chứng cơ thể liên quan đến việc cai opioid ở người trưởng thành. Điều này đánh dấu sự chấp thuận đầu tiên của một loại thuốc để giảm thiểu các triệu chứng cai thuốc phiện - bao gồm chóng mặt, toát mồ hôi, đau nhức bắp thịt, và đau bụng - hơn là sự phụ thuộc opioid cơ bản (trong điều trị thay thế).

Lofexidine là một chất đồng vận thụ thể alpha 2-adrenergic chọn lọc và ban đầu được biết đến như một loại thuốc tăng huyết áp.

"Chúng tôi biết rằng các triệu chứng cơ thể của việc cai opioid có thể là một trong những rào cản lớn nhất cho bệnh nhân tìm kiếm sự giúp đỡ và cuối cùng khắc phục tình trạng nghiện", Ủy viên FDA, Scott Gotlieb, cho biết trong bản thông cáo báo chí của cơ quan. “Sự sợ hãi của các triệu chứng cai nghiện thường ngăn ngừa những người bị nghiện opioid tìm kiếm sự giúp đỡ. Và những người tìm kiếm sự trợ giúp có thể tái phát do các triệu chứng cai nghiện liên tục. ”

Adam Bisaga, M.D., một giáo sư tâm thần học tại Trung tâm y tế Đại học Columbia Irving, nói với tạp chí tâm thần rằng sự chấp thuận này là quan trọng vì nó mở rộng các lựa chọn cho bệnh nhân bị rối loạn sử dụng opioid (OUD). Bisaga đã không tham gia vào các nghiên cứu lâm sàng của lofexidine dẫn đến sự chấp thuận của FDA về thuốc.

"Ngay bây giờ, có hai con đường rất rõ ràng để điều trị bệnh nhân bị rối loạn opioid, "ông nói. “Đầu tiên là chuyển chúng sang một loại thuốc opioid khác theo quy định như methadone hoặc buprenorphine. Cách khác là giải độc chúng, và sau đó kê toa naltrexone để ngăn ngừa tái phát. ”

Kế hoạch điều trị naltrexone có lợi thế vì naltrexone là một thuốc không có opioid với khả năng lạm dụng hạn chế và các bác sĩ lâm sàng không cần phải từ bỏ để kê đơn. Trước khi naltrexone có thể được trao cho một bệnh nhân, họ cần phải được hoàn toàn không sử dụng opioid, hoặc các triệu chứng cai nghiện khác có thể nghiêm trọng. Có thể mất đến một tuần để các opioid thải trừ khỏi cơ thể.

Trước đây, để điều trị triệu chứng cai nghiện opioid của bệnh nhân, các bác sĩ đã giới hạn việc kê đơn thuốc clonidin (một loại thuốc điều trị tăng huyết áp khác). Lofexidine hiện nay cung cấp những lợi ích của clonidine trong một công thức được phê duyệt.

Ngoài ra, lofexidine là một chất đồng vận alpha-2 đặc hiệu hơn clonidine, lưu ý của Kyle Kampman, M.D., một giáo sư tâm thần học tại Đại học Pennsylvania Perelman School of Medicine. "Vì vậy, lofexidine sẽ có ít xu hướng giảm huyết áp và nhịp tim ở liều điều trị," ông nói.

"Những gì thường bị mất khi nói về sự chấp thuận này là mọi người không thể ngắt kết nối giải độc khỏi liệu pháp tái phát", Bisaga nói thêm. "Chỉ cần giúp cai nghiện một người nào đó không được coi là một điều trị phụ thuộc opioid, đặc biệt là trong ngày và tuổi khi opioid rất mạnh." Một khi một người loại khỏi cơ thể họ opioid, họ có nguy cơ tử vong cao hơn nếu họ bắt đầu dùng opioid một lần nữa bởi vì cơ thể của họ không thể chịu đựng được các opioid ở mức họ đã thường dùng.

Quyết định phê duyệt lofexidine dựa trên kết quả của hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng của 866 người trưởng thành đáp ứng các tiêu chí DSM-IV về sự phụ thuộc opioid và đang trải qua ngừng thuốc opioid đột ngột. Đánh giá ban đầu là mức độ nghiêm trọng của triệu chứng cai nghiện được đo bằng thang đo rút gọn của bệnh nhân được đánh giá của bệnh nhân Gossop (SOWS-Gossop). Báo cáo này bao gồm 10 câu hỏi được ghi bằng một trong bốn lựa chọn phản hồi (không, nhẹ, trung bình và nghiêm trọng) để biên soạn điểm số triệu chứng nghiêm trọng từ 0 đến 30. Các biện pháp khác bao gồm thang thu hồi thuốc phiện (COWS), cũng như thời gian trung bình bỏ nghiên cứu và số bệnh nhân hoàn thành các nghiên cứu một tuần này.

Trong cả hai nghiên cứu, lofexidine vượt trội so với giả dược trên nhiều đánh giá. Sau ba ngày điều trị, những người tham gia nhóm lofexidine có điểm SOWS-Gossop trung bình là 6 so với 9 trong nhóm giả dược. Ngoài ra, nhóm lofexidine có tỷ lệ hoàn thành cao hơn 50%.

Nhìn chung, thuốc thường được dung nạp tốt, và hầu hết các tác dụng phụ xuất hiện là nhẹ hoặc vừa phải. Các tác dụng phụ thường gặp nhất được báo cáo bởi những người tham gia nghiên cứu về lofexidine bao gồm huyết áp thấp, nhịp tim chậm, chóng mặt, ngất xỉu và khô miệng. Với những tác dụng phụ này, FDA tuyên bố rằng các tác nhân khác có thể làm giảm nhịp tim hoặc huyết áp như rượu hoặc benzodiazepin nên cần được dùng thận trọng bởi bệnh nhân dùng lofexidin.

FDA cũng lưu ý rằng phương pháp điều trị này được chấp thuận sử dụng trong tối đa 14 ngày. Lofexidine không được khuyến khích để giúp mọi người dần dần giảm lượng opioid của họ, chẳng hạn như người ta giảm liều thuốc giảm đau./.

Nguồn: https://psychnews.psychiatryonline.org/doi/10.1176/appi.pn.2018.pp6a1

Nick Zagorski,

1 Jun 2018

(Người dịch: BSNT. Nguyễn Viết Chung)


   Dùng sớm Ginkgo biloba có tác dụng phòng bệnh Alzheimer. Trình độ giáo dục cũng có tác dụng phòng Alzheimer.

Các yếu tố khác ngoài việc sử dụng thuốc chống trầm cảm trong thời kỳ mang thai dự đoán mạnh mẽ đến trí tuệ và hành vi của trẻ.
Thời kỳ thai và thơ ấu tiếp xúc với trầm cảm của người  mẹ có thể dự đoán có ý nghĩa các vấn đề hành vi của con và có thể có nguy cơ lâu dài cho tâm lý con, báo cáo một nhóm các nhà nghiên cứu Canada Tạp chí Tâm thần học Mỹ tháng mười một.
Trưởng nhóm tác giả Irena Nulman, MD, một giáo sư tại Khoa Nhi , Trường Đại học Toronto và Phó giám đốc của chương trình Motherisk tại bệnh viện nhi ở Toronto, và các đồng nghiệp đã mời một nhóm phụ nữ mang thai để giúp họ tách biệt các hậu quả trầm cảm của người mẹ và những ảnh hưởng của điều trị dược lý của nó. Những phụ nữ  được lựa chọn trong số những người tìm kiếm tư vấn từ chương trình Motherisk về sự an toàn của các thuốc khác nhau khi mang thai, và họ đồng ý để cho phép theo dõi đánh giá của chức năng nhận thức và khả năng hành vi của con mình.

Những đứa trẻ đã được phân loại thành bốn nhóm: Những trẻ có tiếp xúc trước khi sinh với thuốc ức chế tái hấp thu norepinephrine serotonin (SNRI) venlafaxine, nhóm tiếp xúc thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs), nhóm mẹ trầm cảm không được điều trị (có mẹ bị trầm cảm  ngưng điều trị thuốc trước khi thụ thai), và những trẻ mẹ không có trầm cảm, khỏe mạnh. Các phụ nữ mang thai không trầm cảm được sử dụng như là một nhóm chứng được gọi là  nguy cơ mẹ (Motherisk) để hỏi về sự tiếp xúc với các thuốc khác ngoài các thuốc chống trầm cảm, chẳng hạn như acetaminophen.
Kết quả nghiên cứu thuần tập bao gồm các con của 62 bà mẹ đã sử dụng venlafaxine trong thời gian mang thai, 62 người đã sử dụng một SSRI (trong đó có 11 phụ nữ sử dụng sertraline, 20 người sử dụng paroxetine, 15 người dùng citalopram, 15 người đã dùng fluoxetine, và 1 người dùng fluvoxamine) , 54 bà mẹ bị trầm cảm không  điều trị, và 62 phụ nữ khỏe mạnh không trầm cảm.
Tại thời điểm đánh giá, các em trong độ tuổi từ 3 đến gần 7 và không có sự khác biệt trong tuổi thai và cân nặng. Thang đánh giá trí thông minh Wechsler cho trẻ mầm non và tiểu học phiên bản 3 được sử dụng để đánh giá trí thông minh của trẻ em, và những vấn đề về hành vi được xác định bởi bảng kiểm hành vi của trẻ  và thang đánh giá của cha mẹ về hành vi của trẻ .
Kết quả của họ chỉ ra rằng con của các bà mẹ bị trầm cảm đã ngừng dùng thuốc chống trầm cảm trước khi mang thai có chỉ số thông minh và tỷ lệ của các vấn đề hành vi tương tự như những người con của bà mẹ venlafaxine hoặc SSRIs trong thời gian mang thai. Chỉ số thông minh thấp hơn ở tất cả các trẻ có mẹ bị trầm cảm được điều trị hay không và vấn đề về hành vi  phần nào phổ biến hơn ở trẻ  có các bà mẹ bị trầm cảm. Khác biệt về chỉ số IQ ở trẻ em đã nghiên cứu là không liên quan đến thuốc chống trầm cảm, mà là bị ảnh hưởng bởi chỉ số thông minh của người mẹ và giới tính của đứa trẻ, với những bé gái có thống kê chỉ số IQ  cao hơn đáng kể trên tất cả các thang đánh giá chỉ số IQ  so với các bé trai.
Điều đó có nghĩa rằng việc điều trị của các bà mẹ bị trầm cảm là không có lợi cho con  của họ? Không phải vậy, từ trẻ em từ cả ba nhóm có mẹ bị trầm cảm có vấn đề  hành vi hơn so với con của những phụ nữ không trầm cảm. Vấn đề hành vi có liên quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh trầm cảm của người mẹ không chỉ trong thời kỳ mang thai mà còn trong suốt thời thơ ấu, việc điều trị cho người mẹ có giá trị rõ ràng cho đứa trẻ.
Nulman và các đồng nghiệp lưu ý rằng 80% những người phụ nữ ngưng điều trị thuốc  trong thời kỳ mang thai có một giai đoạn trầm cảm ở năm đầu tiên sau khi sinh, kết quả là họ cho biết hỗ trợ phát hiện trước đó làm nổi bật ý nghĩa tiêu cực của ngưng điều trị thuốc. "Là một nghiên cứu lớn cho thấy trầm cảm sau sinh là một yếu tố nguy cơ suy giảm chức năng nhận thức và cảm xúc ở trẻ em, tầm quan trọng của điều trị trầm cảm người mẹ trong thời kỳ mang thai được đánh giá cao", họ nói.
Người dịch: BS Nguyễn Hoàng Yến

(Dịch từ Psychiatric News ngày 7/12/2012)


   Những trẻ em sinh ra từ những bà mẹ sử dụng thuốc CTC thường có nguy cơ bị điểm Apga sau 5 phút là 7 hoặc thấp hơn (OR 4.44, 95% CI 2.58 đến 7.63) và phải đưa vào đơn vị hồi sức cấp cức sơ sinh (OR 2.39, 95% CI 1.69 đến 3.39), nghiên cứu này được đăng trên tạp chí  Archives of Pediatrics and Adolescent Medicine số tháng 10/2009.




Chịu trách nhiệm: TS. Nguyễn Doãn Phương - Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia
Địa chỉ: 78, Giải Phóng, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội;
Điện thoại: (84-24) 38522087 - (84-24) 35765344 - 0984 104 115
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. - www.nimh.gov.vn